B.l.u.e

Inside the crowd, I dance [alone]

Menu Close

Tag: âm-nhạc

anh đâu buồn mà chỉ tiếc em không đi hết những ngày đắm say

Đôi khi tôi chợt nghĩ, nhân gian hợp rồi li, chân chính đau đớn nhất không phải là bản thân của sự-chia-tay ấy, mà là ở những kí ức, cùng sự nuối tiếc khôn nguôi ở lại. Tôi, có những mối tình đi qua không để lại chút gì vấn vương, cũng có, đôi khi không phải là một cuộc-tình đích thực mà chỉ là đôi ba kỉ niệm, nhưng khi chợt nhớ về, lại thấy lòng mình buồn tím ngắt.

Tôi thích dùng cụm từ buồn tím ngắt. Nó buồn thật, nhưng lại nhuốm một vẻ gì đó lãng mạn, một kiểu lãng mạn rất trẻ, đam mê và đầy tưởng nhớ. Người ta gọi đó là thời-hoa-đỏ. Lũ chúng ta đây chưa già đến mức phải nuối tiếc về cái thời đẹp đẽ ấy, nhưng đôi khi, lúc nào đó, có thể là bên ly cafe đắng buổi sớm mai, có thể không vì lí do nào cả, bất chợt, chúng ta lại nhớ về một thời yêu đắm say nào đó đã qua (dù điều đó không có nghĩa là ta đã mất khả năng lại yêu say đắm).

Tôi đã nghĩ rằng, mình phải giới thiệu bài thơ ‘Thời hoa đỏ’ của nhà thơ Thanh Tùng, được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc theo một cách nào đó khác thế này. Nhưng khi đặt tay vào viết, thì mọi cảm xúc cứ tuôn ra ào ạt. Viết về thứ gì đó mà mình hoàn toàn hòa vào được, nó khó chịu thế đấy…

***

‘Thời hoa đỏ’ có lẽ là một trong những bài thơ tình viết trong thời cách mạng đẹp và buồn, và, có thể nói là bài thơ được đông đảo thanh niên, thiếu nữ say mê và ghi nhớ nhất. Bài thơ đỏ, đỏ theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, đỏ từ hình ảnh những bông hoa như mưa rơi rơi, đỏ từ nỗi say mê của thiếu nữ, đến đỏ màu máu-ứa một thời trai trẻ, và thậm chí đỏ rực của cả sự lặng-im.

Thông thường, khi nói về cái hay của bài thơ hoặc ca khúc nào đó, người ta hay bỏ qua phần hoàn cảnh sáng tác, đơn thuần vì nó chán ngắt và tẻ nhạt. Nhưng đôi khi, chính việc hiểu cái phần tẻ nhạt ấy lại giúp chúng ta cảm nhận sâu sắc về bài thơ hơn. Nhà thơ Thanh Tùng viết ‘Thời hoa đỏ’ vào năm 1973, giữa thời kì chiến dịch Quảng Trị, để kỉ niệm mối tình với người vợ đầu chia tay ở Hải Phòng.

Vợ cũ của Thanh Tùng tên Nhàn, là người nổi tiếng có nhan sắc, sau bỏ ông đi lấy người khác ở Quảng Ninh. Khi nghĩ về chuyện hai người, Thanh Tùng hay bảo “đến với nhau bắt đầu và kết thúc cũng vì thơ”. Tuy chia tay nhau, nhưng nhà thơ vẫn yêu bà nhiều lắm. Khi nghe tin bà mất vì bị bệnh tim, ông tức tốc xuống Quảng Ninh để tiễn đưa bà lần cuối. Nỗi bi thương về sự xa cách, cùng sự tiếc nuối về một cuộc tình đẹp nhưng không thành đã trở thành nguồn cảm hứng để Thanh Tùng viết bài này, bài mà theo ông là nỗi đau tột cùng thăng hoa thành định mệnh của đời tôi, thành tên gọi của Thanh Tùng.

***

Thời chiến tranh, con người ta có thể ít yêu, vì còn bận rộn với những lo toan cần thiết khác, nhưng đa phần cuộc tình thời chiến nào cũng đẹp, và phi lý đến cùng cực. Có những điều mà khi thế hệ chúng ta nghe nói lại, bỗng thấy tưởng chừng như chính bản thân những con người đầy lý tưởng vào thời kì đó mới có thể làm được. Thanh Tùng từng kể, giữa thời kì chiến tranh ác liệt vào năm 1967, ông vẫn hằng ngày chạy từ Hải Phòng xuống Vĩnh Bảo, chỉ để gặp cô ấy, nói với nhau vài câu rồi quay trở lại, sáng hôm sau còn làm việc. Mối tình của thời bom đạn, chỉ có thế thôi, ấy vậy mà đọng lại mãi.

Đọng lại, ngay cả khi đã chia xa.

Cái say mê một thời thiếu nữ
Mỗi mùa hoa đỏ về
Hoa như mưa rơi rơi…
Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi
Như máu ứa một thời trai trẻ

Hoa như mưa rơi rơi
Như tháng ngày xưa ta dại khờ
Ta nhìn sâu vào mắt nhau
Mà thấy lòng đau xót

Cuộc tình đẹp đến thế nào cũng không xóa mờ được nỗi cay đắng của sự vỡ tan, nhưng, may thay, cái hồi tưởng tháng ngày xưa ta dại khờ lại là phương thuốc vô cùng hiệu quả. Ừ, cái thời trai trẻ, ngày ấy…

***

Bài thơ ‘Thời hoa đỏ’ được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc vào năm 1989, trong chuyến đi dự trại sáng tác ở Liên Xô. Có những sự kết hợp lạ kì làm nên một tác phẩm đẹp, việc nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng trên giường bệnh tình cờ gặp được ‘Thời hoa đỏ’ của Thanh Tùng là một trong những sự kết hợp lạ kì ấy.

Đem nhạc vào thơ có khó không? Theo nhà thơ Thanh Tùng thì khó, và là thơ tự do thì càng khó nữa. Phải có sự đồng cảm hay mối tương quan nào đó, từng nốt nhạc mới hòa được vào lời bài thơ. Tôi không rành lắm về âm luật cùng những định nghĩa vô vàn rắc rối chung quanh nó, nhưng về phần cảm nhận cá nhân mình, tôi lấy làm ngạc nhiên khi một bài nhạc sáng tác vào những năm đầu của thời kì đổi mới lại có thể ‘cũ’ đến thế. ‘Cũ’ đến day dứt và ngỡ ngàng khi Lệ Thu thổn thức

Em thầm hát một câu thơ cũ
Về một thời thiếu nữ, say mê

cho đến cái mùi cũ kĩ quen thuộc, vốn thường thấy trong các bài nhạc thuở ban đầu của nền tân nhạc Việt Nam.

Bài thơ là một câu chuyện kể, những nốt nhạc giúp câu chuyện lay động hơn, còn Lệ Thu, đã thổi hồn vào đó. Hiếm có bài nào mà tài tử Ngọc Bảo từng trình bày lại có phiên bản hay hơn. Không phải nâng tầm Ngọc Bảo, chỉ đơn giản là thế. Nhưng riêng bài này, Lệ Thu là nhất.

Có đáng tiếc không khi một trong những từ đắt và gợi nhất ở bài thơ gốc, khi chuyển thể thành nhạc đã được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng sửa lại

Như máu ứa một thời trai trẻ

được thay bằng

Như nuối tiếc một thời trai trẻ

Phải chăng, cái máu-ứa đầy mãnh liệt ấy, chỉ có bản thân Thanh Tùng mới cảm nhận được trọn vẹn nhất. Vì trước hết, đó là cuộc tình của riêng ông, đau đớn và nhiệt huyết, hay thời hoa đỏ của riêng ông…

***

anh đâu buồn mà chỉ tiếc
em không đi hết những ngày đắm say

Biết là đường đời vẫn phải luôn tiếp bước, đắm say này dừng, con người ta lại bắt đầu những cung đường đắm say khác. Ấy thế mà, sao vẫn đọng lại tiếc nhớ nơi đây?

Vì mỗi lần yêu, là như sống lại một thời hoa đỏ…

04112011,
B.l.u.e
.

Văn học – Thi ca – Âm nhạc – Từ thời đại đến thời đại – II

Phạm Duy - Trịnh Công Sơn

Một buổi chiều, khi mà thời tiết không quá nóng bức, khi mà nhiệt độ vốn cao như heo ở Texas giảm một cách rõ rệt, thì thiết tưởng chẳng có gì thích thú bằng ngồi trên chiếc xích đu nhỏ trong vườn, nghe lại các bài nhạc thật nhẹ, và ngồi viết.

Cái nhìn của tôi về nghệ thuật, hay nói khác đi là cách cảm nhận về nghệ thuật của tôi khá thiên kiến và tiêu cực. Tôi thường chỉ thích đọc sách từ vài tác giả, hay về vài chủ đề quen thuộc; nhạc cũng thế, tôi thích nghe đi nghe lại những bản nhạc cũ của mình, hơn là tìm đọc và nghe tràn lan. Việc này thoạt nhìn thì có khuyết điểm con ếch chỉ thấy được bầu trời là miệng giếng, nhưng nó giúp cho tôi tự tin rằng cái nhìn của mình về các thể loại yêu thích là một cái nhìn hoàn toàn không hời hợt.

Tôi bắt đầu nghe nhạc trữ tình Việt Nam vào những năm trung học phổ thông, khi nhà tôi nối Internet. Tôi vẫn còn nhớ như in cái cảm giác háo hức chờ để tải cho bằng được một bài nhạc xưa nào đấy, hay thích thú đến mức chỉ muốn hét toáng lên khi đột nhiên có một cơn rùng mình nhè nhẹ, không thể kiểm soát được khi có dịp “nếm” một ca khúc nào, mà cả ca từ lẫn nội dung đều xứng đáng gọi bằng tên tuyệt tác.
Tôi vẫn giữ thói quen này cho tới tận bây giờ, kể ra cũng đã tầm bảy năm trời. Đem cái kinh nghiệm bảy năm nghe nhạc của mình để bàn về chữ “thời đại” như trong tựa đề, điều này là không lượng sức mình. Tuy nhiên, bài này tôi không thật sự viết cho tôi…

Tôi viết cho những người có cùng sở thích với tôi, dù quen biết hay chưa từng nghe tên, nói chuyện.
Tôi viết cho tất cả những người đã và đang chia sẻ những bản nhạc này, dù là qua forum, hay từng bài, từng bài lẻ gởi qua Yahoo! Messenger ì ạch, ngay khi có bất cứ ai yêu cầu, chỉ với mục đích đưa cái đẹp, cái tinh tuý đi khắp nơi.
Tôi viết cho những anh, những chú mà tôi đã có cơ duyên gặp gỡ. Đó là những buổi – trộm vía thay, toàn gắn liền với thịt chó, ngồi vừa nhấm nháp miếng dồi chó, vừa đệm guitar thùng và cả bọn cùng hát vang, hay là những phút giây ngồi cùng nhau bên bờ sông, kẻ xướng người ca những bài nhạc quen thuộc, choàng tay khoác vai nhau nói chuyện thật thân thiết. Dù hiện tại, đã hết rồi những dịp thế này, tôi vẫn rất trân trọng các chú, các anh và thời khắc ấy.

Thế nhé, bắt đầu vậy…

2 – Âm nhạc

Khác với thi ca và văn học, nền âm nhạc Việt Nam kéo dài cái thời huy hoàng của mình xuyên suốt gần nửa thế kỷ. Quãng thời gian ấy tuy dài, nhưng độ chín, độ rung động của các bài nhạc không bị loãng đi, trái lại, nó chỉ giúp cho số lượng các bài nhạc tuyệt tác tăng nhiều, tỉ lệ thuận với độ dài của thời gian.

Tuy cùng bị ảnh hưởng bởi làn sóng nghệ thuật ào ạt đổ bộ từ phương Tây, đặc biệt từ Pháp, nhưng nền tân nhạc Việt Nam đi sau phong trào Thơ Mới tầm vài năm, nghĩa là phát triển chậm hơn. Tân nhạc Việt Nam được cho là bắt đầu từ khoảng năm 1937. Thời điểm này, các nhạc sĩ bắt đầu viết lời cho các bài nhạc Tây, hay gọi là “bài hát ta điệu Tây”. Và chỉ khoảng thời gian ngắn sau đấy, các nhạc sĩ bấy giờ đã mày mò, sáng tác ra các bản nhạc hoàn toàn Việt Nam. Người ta dùng thuật ngữ “âm nhạc cải cách” (musique renovée ((nhà thơ Nguyễn Văn Cổn là người đầu tiên dùng thuật ngữ này))) để chỉ loại nhạc này.

Thực ra, vẫn chưa ai biết ai là người đầu tiên khai phá, đặt viên gạch đầu tiên cho nền tân nhạc Việt Nam. Theo Trần Quang Hải trong Lịch sử tân nhạc Việt Nam thì ca khúc tân nhạc Việt Nam đầu tiên là bài Cùng nhau đi Hồng binh của nhạc sĩ Đinh Nhu, viết vào năm 1930, trong thời gian bị cầm tù tại Côn Đảo. Người thì cho là các nhạc sĩ như Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Văn Chung, Doãn Mẫn… tuy nhiên đa phần các nhạc sĩ này chỉ sáng tác và phổ biến các ca khúc của mình trong phạm vi hạn hẹp (nhóm nhạc).

Mốc đánh dấu sự hình thành của nền tân nhạc Việt Nam là buổi biểu diễn và thuyết trình của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên tại Hà Nội vào năm 1938. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên đã nổi tiếng trên sóng đài phát thanh với các ca khúc như Kiếp hoa (sáng tác năm 1937), Anh hùng ca, Bông cúc vàng – ba ca khúc này hầu như được chính thức xem là các ca khúc đầu tiên của nền tân nhạc Việt Nam. Tuy nhiên, mốc này chỉ xét trên khía cạnh “được phổ biến”, bởi thời điểm này đã có nhiều ca khúc như Bẽ bàng (1935), Nghệ sĩ hành khúc (1936) của Lê Yên; Tiếng sáo chăn trâu (1935), Bên hồ liễu (1936), Bóng ai qua thềm (1937) của Văn Chung được sáng tác. Tại Huế, Nguyễn Văn Thương viết bản Trên sông Hương năm 1936. Lê Thương ở Hải Phòng cũng có Xuân năm xưa năm 1936. Tuy nhiên, các ca khúc này không được phổ biến rộng rãi trên phạm vi cả nước.

Nhắc lại, vào tháng 4 năm 1938, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên ra Bắc, chuyến đi này được báo Tiếng dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng và báo Ngày nay của Tự Lực Văn Đoàn – tờ báo rất phổ biến ở miền Bắc thời bấy giờ, đánh giá rất cao. Sau đấy, vào tháng 9 năm 1938, tờ Ngày Nay đã cho đăng những bản nhạc đầu tiên Bông cúc vàng, Kiếp hoa của Nguyễn Văn Tuyên, Bình minh của Nguyễn Xuân Khoát, Bản đàn xuân của Lê Thương, Khúc yêu đương của Thẩm Oánh, Đám mây hàng của Phạm Đăng Hinh, Đường trường của Trần Quang Ngọc…

Nhiều ca khúc sáng tác từ trước được các nhạc sĩ phát hành. Từ đầu 1939, các bản nhạc của được bán tại các hiệu sách. Tân nhạc Việt Nam chính thức hình thành.

Lạ lùng thay, nền tân nhạc Việt Nam không có khái niệm mới – cũ, ban đầu – sau này, chập chững – trưởng thành. Tuy mới phát triển, nhưng các ca khúc trong giai đoạn này đã đạt được chữ “mỹ”. Một trong những ca khúc rất hay ban đầu là bản Biệt ly của nhạc sĩ Doãn Mẫn, và đặc biệt là Thu ca tam tuyệt: Đêm thu – Con thuyền không bến – Giọt mưa thu của nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh Đặng Thế Phong.

Kể từ bước phát triển đầy mạnh mẽ lúc ban đầu ấy, nền tân nhạc Việt Nam đã phát triển như vũ bão, giai đoạn nào cũng có những nhạc sĩ vô cùng tài năng, với các bài hát tuyệt mỹ cả về ca từ lẫn giai điệu. Thật may mắn cho thế hệ thính giả chúng ta, trong vòng hơn nửa thập kỉ ấy, kho tàng âm nhạc Việt Nam đã được lấp đầy với hàng loạt tuyệt tác.

Bài này, nhắc lại, mục đích chính không phải là tóm tắt nền tân nhạc Việt Nam, mà chủ yếu là so sánh lí do tại sao thời hiện đại không có nhiều ca khúc hay như trước đây.

Giống như trong phong trào Thơ Mới, chỉ cần đem ra một cái tên nhạc sĩ nào đó trong giai đoạn trên, cũng có thể khiến chúng ta hiện nay lắc đầu mà cảm thán rằng: đến bao giờ, đến bao giờ…

Liệu có phải vì thính giả chúng ta quá thiên kiến, quá yêu mến những nhạc sĩ cùng các ca khúc bất hủ như: Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Phạm Duy… mà bĩu môi, dè bỉu các bài nhạc hiện tại? Tôi nghĩ câu trả lời là không!
Nếu chúng ta nhìn vào mốc thời gian mà nhạc sĩ nổi tiếng nhất trong nền âm nhạc Việt trong vài thập kỷ trở lại đây là Trịnh Công Sơn, và trước đó xíu là các sáng tác của cây đại thụ Phạm Duy, thì sẽ nhìn thấy một điều: những bài hát này ra đời trong giai đoạn người ta đang say mê nhạc của vô vàn các tên tuổi nổi tiếng như Văn Cao, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Lê Thương, Dương Thiệu Tước…

Nếu mà những Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Vũ Thành An, Ngô Thuỵ Miên, Từ Công Phụng của ngày ấy cũng có tâm lý e dè trước cái bóng Hòn vọng phu của Lê Thương bất hủ, Thu ca tam tuyệt sầu mà đẹp đến nao lòng của Đặng Thế Phong, hay các bài thu của người được xem là “nhạc sĩ của mùa thu” Đoàn Chuẩn, thì làm sao có được các bản tình ca hoa mỹ và đắm say lòng người? Vì thế, đem lý do thị hiếu của người nghe ra là không đúng. Người nghe tuy có thiên kiến nào đấy, nhưng luôn yêu thích cái đẹp, và luôn đi tìm “chân, thiện, mỹ”. Chỉ cần nhạc hay, là đại bộ phận người nghe sẽ tiếp nhận, như họ đã từng yêu mến và say mê cùng lúc những nhạc sĩ thuộc hai thế hệ khác nhau đã nói ở trên.

Vậy thì, lí do tại sao nền tân nhạc đương đại Việt Nam hiện tại không được đánh giá cao?

Không thể nói rằng, hiện tại âm nhạc Việt Nam không có ca khúc hay. Người ta hay cho rằng, thời điểm mà các nhạc sĩ như Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Vũ Thành An… ngưng sáng tác, thì nền âm nhạc Việt Nam dần dần lụi tàn. Tuy nhiên, có một điều ít ai để ý, ca khúc nổi tiếng Riêng một góc trời của Ngô Thuỵ Miên được sáng tác vào năm 1997, Mưa trên cuộc tình tôi cũng của Ngô Thuỵ Miên được sáng tác vào năm 2000, vào đúng thời điểm làn sóng nhạc Hàn, Tàu, Thái… tấn công ồ ạt thị trường âm nhạc Việt. Đến thời điểm hiện tại, vẫn có những tên tuổi như Dương Thụ, Quốc Bảo… sáng tác những bài nhạc với ca từ thật nhẹ nhàng, nên thơ.

Cá nhân tôi vẫn cho rằng, các bài của Dương Thụ như Đánh thức tầm xuân, Bài hát ru cho anh, và gần đây tôi nghe là Hoạ mi hót trong mưa; Quốc Bảo với Chờ em nơi thềm trăng, Em về tinh khôi, và đặc biệt là Còn ta với nồng nàn, có thể đạt tới mức gọi là hoa mỹ, sánh với các tuyệt tác của Văn Cao hay Đoàn Chuẩn thì không nổi, nhưng lời ca thì theo tôi hoàn toàn có thể sánh với một vài bài hay nhất của Trịnh Công Sơn hay Phạm Duy. Thử nhìn ca từ Chờ em nơi thềm trăng, như giấc xưa áo hoa tóc rối… hay Mưa, trong mưa họa mi vẫn hót thật dịu dàng dịu dàng/ Trên môi em tình yêu đã mất còn nồng nàn nồng nàn…, nó rất đẹp và rất lạ, nồng nàn và thắm thiết, có kém gì đại đa phần các tác phẩm thời trước đâu?

Tuy nhiên, những nhạc sĩ như thế là quá hiếm, so với hàng hà sa số các tác phẩm mà người ta gán cho nó cái mác là âm nhạc chả ra thể thống gì hiện nay. Vậy tại sao nền âm nhạc Việt Nam lại đi xuống như thế? Tại sao những chương trình được ưa thích như Paris By Night, các ca khúc được mong chờ luôn là các ca khúc xưa?

Tôi đã từng có một thời gian nghe tuốt luốt tất cả các album nhạc teen mới nhất trên Zing, chủ yếu để xem loại nhạc này có gì hấp dẫn. Kết quả là thấy chán ngắt, tôi thuộc lời các bài nhạc đấy vanh vách, mà chẳng thể nhớ nổi chúng nói về cái gì. Lỗi lớn nhất trong việc này nhiều người cho là thuộc về anh báo chí, trong việc lăng xê quá đáng bọn mà họ gọi là sao tuổi teen ấy, giọng hát thì yếu ớt, cảm xúc thì không có, lăng xê phong trào ca sĩ tự sáng tác, thay vì nói thẳng là sáng tác của anh dở tệ. Tuy nhiên, như lão già Wynand trong Suối Nguồi đã nói: tờ báo của tôi thành công vì viết về những thứ mà độc giả thích đọc, mọi sự ở đây cũng như thế…

Vậy vì lí do gì mà lứa trẻ ngày nay thích đọc và thích ca sĩ vì những tin lăng xê vớ vẩn, thay vì bỏ thời gian nghe những loại nhạc hay đích thực? Một xã hội đang trên đà xuống dốc về mặt văn hoá – nghệ thuật, hay là Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế ((câu của Ngô Thì Nhậm)). Công nghệ truyền thông phát triển quá nhanh, nhu cầu nghe – nhìn của công chúng cũng tăng theo cấp số nhân, vì thế các nhạc sĩ không có thời gian sáng tác các tác phẩm âm nhạc bằng tâm huyết đích thực của mình, mà đành phải xào xào nấu nấu để cho ra các sản phẩm mì ăn liền phục vụ nhu cầu và thị hiếu? Do phải chăng giờ trở thành ca sĩ quá dễ, người người nhà nhà mộng thành sao, chỉ cần vài chục triệu là được lên truyền hình hát, nên cái tâm với nghề không còn cháy bỏng, dẫn đến việc ít khi chịu tìm hiểu để hoàn thiện kĩ năng ca hát của mình?

Cá nhân tôi cho rằng, tất cả những điều trên, từ thị hiếu lười và thích hưởng thụ những thứ hào nhoáng của lứa trẻ, cho tới sự đồng tình của báo chí và các cơ quan truyền thông, đã góp phần biến nền âm nhạc Việt Nam, từ giai đoạn phát triển huy hoàng, trở thành tàn lụi. Và nếu không phải có những tác phẩm của những nhạc sĩ có tài và có tâm như Bảo Phúc – Bảo Chấn, Dương Thụ, Quốc Bảo, Trần Tiến… góp phần giữ cho nó từng hơi thở thoi thóp, thì ắt là nó đã đi về nơi xa lắm.

Lạ lùng cái là giới trẻ ngày nay đủ nhận thức để biết đâu là ca khúc hay – dở, nghĩa là họ vẫn biết những bài nhạc Trịnh là tuyệt vời, họ vẫn nghe và vẫn cảm nhận được, nhưng song song với đó, họ lại dễ dàng tỏ ra say mê các ca khúc thời thượng với ngôn từ rỗng tuếch, và nhạc thì chả có điểm đặc sắc riêng. Liệu có cần một cú hích thật thẳng tay, để dần dần bỏ đi cái lớp hào nhoáng rẻ tiền ấy?

Biết phải làm gì, kêu gọi mọi người đi tìm về những giá trị nghệ thuật đích thực chăng? Thôi đành, nghe những bản nhạc tuyệt tác ấy, mà chặc lưỡi than rằng: Thương thay, một kiếp vàng son...

B.l.u.e

p/s: bài viết có sử dụng tư liệu trên vi.wikipedia.org (từ khoá: Tân nhạc).

Văn học – Thi ca – Âm nhạc – Từ thời đại đến thời đại

Hôm nay, nhân đọc tin Tế Hanh – một trong những nhà thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ Mới vừa qua đời ((http://vnexpress.net/GL/Van-hoa/2009/07/3BA11540/)), tôi chợt giật mình, cảm thấy hơi hụt hẫng khi nhận ra một điều rằng: những ngòi bút tuyệt vời ấy, rồi đã tới ngày chẳng còn ai trên cõi đời này (sự thật là hiện trong những tác giả được liệt kê ở cuốn “Thi nhân Việt Nam”, chỉ còn nhà thơ Xuân Tâm còn sống ((thông tin tại http://tintuc.xalo.vn/02976019621/nguoi_tho_con_sot_giua_nhan_gian.html – chưa kiểm chứng))). Để dòng suy nghĩ trôi miên man một hồi, tôi lại buồn bã khi phải tự thừa nhận sự thật là, sẽ phải cần một thời gian rất lâu (mà có lẽ cuộc đời tôi sẽ không chứng kiến được), Việt Nam mới lại sản sinh ra một thế hệ tài hoa tuyệt đỉnh như thế.

Tôi vốn là người rất ngại tìm hiểu, ít khi nào tự đặt những câu hỏi: tại sao?, nhưng trong vấn đề này, tôi muốn tìm ra câu trả lời thật thỏa đáng. Câu hỏi đặt ra ở đây là: tại sao thời đại hiện tại, không có những văn nghệ sĩ thực sự nổi bật? Điều này là do sự cách khoảng của chu kì thời gian, do ảnh hưởng của những yếu tố khách quan hay do những tính chất đặc trưng của thời đại chúng ta?

Tôi thích đọc thơ và nghe nhạc. Vì vậy, tôi sẽ thử viết về hai chủ đề chính này. Bài viết ắt còn nhiều thiếu sót, mong nhận được sự góp ý của mọi người.

1 – Văn học và Thi ca

Thi nhân Việt Nam

Trong tác phẩm Thi nhân Việt Nam do hai anh em Hoài Thanh – Hoài Chân xuất bản (lần đầu vào năm 1942), tác giả trong bài luận đề tựa của mình có gọi quãng thời gian từ năm 1932 – 1941 là “một thời đại trong thi ca”. Tôi cả nghĩ, nếu là tôi viết cuốn sách ấy, thì ắt sẽ đổi lại cụm từ trên thành “thời đại rực rỡ nhất trong thi ca”.
Nếu bạn lần đầu nhìn vào danh sách những nhà thơ được liệt kê trong Thi nhân Việt Nam (dĩ nhiên, có kha khá nhà thơ tài ba bị “bỏ sót” ((Tú Mỡ, Đỗ Phồn…))), tôi quả quyết rằng bạn sẽ phải ngạc nhiên. Không thể tin được tại sao chỉ trong chừng chục năm ngắn ngủi, mà văn đàn Việt Nam lại sản sinh ra nhiều quái kiệt thế, hoặc cũng có thể là tại sao những quái kiệt ấy, lại cho ra đời hầu hết những tác phẩm xứng đáng xếp vào hàng đỉnh cao trong cuộc đời sáng tác của mình vào thời điểm ấy.

Trăm hoa đua nở, Lưu Trọng Lư nhẹ nhàng và tinh tế, Huy Thông gói gọn trong hai chữ “bi tráng”, Xuân Diệu ông hoàng của tình thơ Việt Nam, chân quê như Nguyễn Nhược Pháp, đau thương Hàn Mặc Tử… tất cả đều tỏa sáng rực rỡ trong giai đoạn này.

Xét về lãnh vực văn xuôi, truyện ngắn. Tầm thời điểm này cũng chứng kiến sự lớn mạnh của các nhà văn trong phong trào Tự Lực Văn Đoàn. Những ngòi bút tài hoa của Thạch Lam, Khái Hưng, Nhất Linh… đua nhau nhảy múa. Chẳng thể nào quên được Thạch Lam với ngòi bút rất nên thơ, chân thật và thấm đậm tình người trong “Gió lạnh đầu mùa”, một “Hồn bướm mơ tiên” phiêu du, ảo mộng của Khái Hưng.
Năm 1941 cũng là năm ra đời của tác phẩm “Lò gạch cũ” (sau đổi tên thành Chí Phèo), là bệ phóng đưa Nam Cao vào danh sách một trong những nhà văn Việt Nam tiêu biểu nhất thế kỉ 20. Tầm năm này (1940), Nguyễn Tuân cho ra đời “Vang bóng một thời” – ngông đến cùng cực, nhưng tài hoa uyên bác được thể hiện qua từng câu, từng chữ, và “đẹp” đến vô ngần. Chúng ta cũng cần lưu ý, hầu như tất cả các tác phẩm hay nhất của “ông vua phóng sự” Vũ Trọng Phụng cũng ra mắt trong thời gian này (Giông Tố 1936, Số Đỏ 1936…)

Có kể thì tới ngày mai cũng không hết về các nhà văn, nhà thơ cùng tác phẩm tiêu biểu, tôi chỉ muốn rút lại một câu: hầu như những tài năng văn thơ kiệt xuất, đều chọn thời đại ấy để đầu thai, và để phát tiết tinh hoa, để lại cho đời những đứa con tinh thần bất hủ.

Vậy thì, tại sao thời đại ấy lại được như thế, còn hiện tại thì không?

Đầu tiên, ta thử xét qua về khía cạnh lịch sử và xã hội. Chúng ta nói về hai khía cạnh “vị nghệ thuật” và “vị nhân sinh”, nhé!
Sau chừng chục năm hội nhập với văn hóa của Tây phương, khi mà những giá trị đến từ các nước trời Âu ấy cái thì hòa lẫn, cái thì đấu đá với cái tư tưởng văn hóa Trung Hoa lãnh hội từ bao đời nay, con người ta phân vân, lạc lối trong mớ hỗn độn, ngổn ngang

Củi một cành khô, lạc mấy dòng
(Tràng Giang – Huy Cận – 1939)

Đến một lúc, khi nhu cầu khẳng định cái “TÔI” lớn mạnh, vượt qua những cái quan niệm “vì số đông” tồn tại lâu đời, người ta muốn viết, để ca ngợi những gì họ yêu thích, đấy là tình yêu, đấy là cái đẹp. Đây cũng là thời gian mà quan điểm “vị nghệ thuật” phát triển mạnh nhất. Hầu hết các bài thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới, đều rất thi vị, hoàn toàn không giáo điều, không chính trị, không áp đặt tư tưởng… Phải chăng vì thế, nó mãi đi vào lòng người, bởi bản chất vốn có của loài người là yêu cái đẹp?

Về văn xuôi, lại là vấn đề khá khác.

Xã hội nhiễu nhương, nước mất nhà tan đặt các nhà văn vào vị trí phải dùng ngòi bút để vạch trần, để bóc tách mọi thứ. Những Chí Phèo, Số Đỏ… trong thời điểm này, đọc vào chỉ thấy đầy chua xót.

Tôi không bàn về “vị nghệ thuật” và “vị nhân sinh”, cái nào đúng, bởi việc này chẳng khác gì gà và trứng cái nào có trước. Chỉ thấy thật tấu xảo, phải chăng chính cái “vị nghệ thuật” đến mức tối đa đã tạo nên những bài thơ đầy thi vị, tinh tế và nhẹ nhàng và cái “vị nhân sinh” đến cùng cực cho ra đời các tác phẩm văn xuôi, truyện ngắn, phóng sự đọc vào chỉ muốn rơi nước mắt, đã hòa cùng nhau để tạo nên giai đoạn hoàng kim ấy?

Tôi lí giải điều trên có ý nói là điều kiện xã hội đã góp phần tạo nên những văn nghệ sĩ tuyệt vời ấy, mà bỏ qua yếu tố ngẫu nhiên của tạo hóa (vì bàn thế nào được). Thế thì ngày nay ra sao?

Ngày nay, cũng là thời điểm cái TÔI được đề lên rất cao. Phong trào emo rầm rộ, phong trào ăn mặc và để tóc phá cách, nhạc nhẽo, thể thao cá tính mạnh… là một phần minh chứng cho xu hướng này. Việc một người đề quá cao cái TÔI của mình không còn bị đánh giá một cách thiên kiến như vài chục năm trước.

Con người càng ngày càng yêu cái đẹp và muốn nói về nó. Nhưng vì sao thơ văn không lớn mạnh? Vì sao lại ít nhà văn nhà thơ nổi tiếng?

Tuy nhiên, với việc xã hội phát triển nhanh, dân giàu nước mạnh, ít hẳn đi các cảnh sống lầm than (nhìn chung đại bộ phận dân chúng so với những năm trước 1945), có thể nói, các văn nghệ sĩ của chúng ta thiếu hẳn đề tài sáng tác. Ồ, tôi không có chủ trương hay suy nghĩ: đất nước cần nghèo khổ để văn học phát triển, chỉ nêu lên mối tương quan giữa việc khi xã hội càng cần nhiều ngòi bút sắc lạnh, cần nhiều tác phẩm, thì khi đó mới xuất hiện càng nhiều tài năng kiệt xuất.

Nhưng, không thể lấy đó làm lí do để đổ lỗi hoàn toàn cho sự thật rằng nền văn học Việt Nam phát triển chậm hẳn lại vào lúc này. Thiên chức của người cầm bút là dùng câu chữ, lời văn của mình khắc họa cuộc sống. Cuộc sống không dừng lại, thì vì lí do gì mà văn học dừng lại?

Không thể nói rằng văn học – thi ca Việt Nam ta vào thời điểm này chẳng có gì ra hồn. Vẫn có những tác phẩm hay, nhưng đem so với những bài thơ, câu chuyện của thời đại trước, thì khoảng cách còn ở xa lắm. Đấy là chưa nói giai đoạn trước đây, có vô vàn bài thơ và tác phẩm văn xuôi xuất sắc thế.

Ngoài ra, tôi nghĩ cần bàn đến sự tác động của việc bùng nổ các phương tiện truyền thông. Nhưng đây là vấn đề, sẽ bàn ở phần sau, bởi nó cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự phát triển của nền âm nhạc Việt Nam. Nói ra trước sẽ mất lí thú.

2 – Âm nhạc

Còn tiếp…

p/s: Bài này có sử dụng tư liệu tại http://vi.wikipedia.org/wiki/Thi_nhân_Việt_Nam.

© 2022 B.l.u.e. All rights reserved.

Theme by Anders Norén.